|
Ngoại T́nh
- Với Cái Nh́n Tâm Lư Đạo Đức
Lịch
sử của các nền văn hóa cho ta một quan niệm chung,
hôn nhân là sự kết hợp chặt chẽ và chung thủy giữa
một người nam và người nữ. Mặc dầu ở một vài nền văn
hóa, thí dụ, do ảnh hưởng của xă hội trước đây,
người Trung Hoa và Việt Nam có tục lệ đa thê. Một
người đàn ông có thể cưới nhiều vợ. Tuy nhiên, trong
chế độ này người phụ nữ dù là làm vợ cả hay làm vợ
thứ th́ "gái chính chuyên", cũng chỉ "một chồng".
Nhưng dù trong một xă hội với quan niệm hôn nhân như
thế, cũng không thấy chỗ nào cho phép hành động "ngoại
t́nh". Ngoài ra, hành động ngoại t́nh c̣n bị lên án,
và kẻ ngoại t́nh c̣n bị khinh bỉ.
Và với ảnh hưởng Kitô Giáo, ngoại t́nh là một trọng
tội. Nó không chỉ phương hại đến đời sống tâm linh,
mà c̣n ảnh hưởng đến cả đời sống xă hội nữa. Trong
10 giới luật của Thiên Chúa, 3 trong những giới luật
này trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến ngoại t́nh
mà mọi người Kitô hữu vẫn thường được nghe và biết
tới, đó là giới răn thứ Sáu "cấm dâm dục"; thứ Bẩy "cấm
ăn cắp của người", và thứ Chín: "cấm chiếm đoạt, ham
muốn vợ chồng người khác". Mặc dù có gia đ́nh hay
không có gia đ́nh mà vướng phải 1 trong ba giới luật
ấy là mang trọng tội. Do đó, hành động ngoại t́nh
không những xúc phạm đến Thiên Chúa, đến bản thân,
và đến người khác.
Với Thiên Chúa, hành động ngoại t́nh phủ nhận quyền
sáng tạo, và luật lệ mà Ngài đă ghi khắc trong ḷng
mỗi người bằng tiếng nói lương tâm.
Với chính bản thân, người ngoại t́nh đă xúc phạm đến
thân xác và linh hồn của ḿnh và người khác bằng
việc say đắm dục vọng: "Chớ làm sự dâm dục".
Với anh chị em ḿnh, người ngoại t́nh đă phạm tội ăn
cắp, ăn cắp t́nh yêu và ăn cắp thân xác của vợ hay
chồng người khác: "Chớ lấy của người". Hành động này
cũng dẫn đến tội tham lam điều mà không thuộc về của
ḿnh là vợ, chồng người khác: "Chớ muốn vợ, chồng
người."
Tóm lại, đối với người Công Giáo, th́ ngoại t́nh
không chỉ lỗi phạm đến đạo đức, mà c̣n lỗi phạm đến
đức bác ái, và v́ thế hành động này không thể chấp
nhận được. Đó là một hành động vô đạo đức và thiếu
trưởng thành về mặt tâm lư.
Khái Niệm Về Tâm Lư Đạo Đức:
Tâm Lư Đạo Đức do Lawrence Kohlberg (1927-1987) sáng
lập. Theo nhà tâm lư người Mỹ này, việc phát triển
đạo đức của con người được chia thành 3 thời kỳ,
tiền phát triển, phát triển và hậu phát triển. Trong
mỗi thời kỳ này, sự trưởng thành của nó lại được
chia làm 2 mức độ tùy thuộc vào nhận thức đạo đức
thích hợp với sự trưởng thành tâm lư. Theo đó, giai
đoạn đầu khởi đi từ khi một em bé bắt đầu nhận thức
được việc ḿnh bị phạt v́ hành động sai trái, và
việc ḿnh được khen v́ làm một điều tốt. Tiến tŕnh
phát triển này kết thúc khi một thanh niên hay thiếu
nữ tự thiết lập cho ḿnh một quan niệm, một lối sống
và thực hành những nguyên tắc đạo đức.
Tuy nhiên, việc trưởng thành của Tâm Lư Đạo Đức chỉ
đạt được khi một người mà theo Kohlberg, có khả năng
biểu lộ được những nguyên tắc nội tâm về luân lư của
ḿnh, gồm:
- Chấp nhận những nguyên tắc xă hội và những ǵ được
mọi người công nhận là phải, là đúng, và là tốt. Thí
dụ, tôi không nên nói dối v́ mọi người đều mong ước
được nghe và nói sự thật. Cũng có thể coi đây là sự
chấp nhận những tâm thức đạo đức chung được mọi
người công nhận.
- H́nh thành một nguyên tắc chuẩn mực, chính xác, rơ
ràng về đạo đức được chứng tỏ bằng một quy luật đạo
đức cho chính ḿnh.
Nếu sự trưởng thành của Tâm Lư Đạo Đức là hành động
ứng dụng quy luật đạo đức mà một người đă hiểu biết
và ư thức, th́ hành động ngoại t́nh là một hành động
phóng túng, bừa băi và vô ư thức về đạo đức.
Nếu lương tâm đạo đức đă chấp nhận quy luật đạo đức
xă hội là không nên nói láo v́ ai cũng muốn và mong
ước được nghe và nói sự thật, th́ việc người chồng
hay người vợ gian dối và che đậy hành động ngoại
t́nh rơ ràng là một hành động thiếu trưởng thành về
đạo đức. Người ngoại t́nh đă gạt gẫm ḷng tin của
mọi người, cách riêng, của vợ hay chồng ḿnh. Theo
một nghĩa chủ quan, th́ hành động này cũng là lừa
dối chính ḿnh. Bởi v́, họ biết ḿnh đang làm ǵ, và
đối xử như thế nào với những người chung quanh và
với chính ḿnh. Họ cũng biết rất rơ đạo đức cá nhân
và đạo đức xă hội không chấp nhận hành động dối trá
và che đậy này.
Như vậy, hành động ngoại t́nh không chứng tỏ được
nguyên tắc chính xác, nghiêm chỉnh theo quy luật
luân lư và đạo đức. Và v́ thế, nếu một người cố t́nh
sống và hành động theo sự thôi thúc và đ̣i hỏi bản
năng th́ đó là một việc làm thiếu trưởng thành tâm
linh. Một hành động đi ra ngoài nguyên tắc và quy
luật đạo đức.
Đạo đức thật, dĩ nhiên, không phải là những hành
động có tính cách h́nh thức của một tôn giáo. Thí dụ,
đọc kinh, lần hạt, hát thánh ca... những việc làm mà
ta quen gọi là đạo đức theo h́nh thức. Do đó, khi
nói đến đạo đức, là nói đến cái "tâm đạo đức". Cái
tâm này được h́nh thành và phát triển ở phần cao của
lư trí và hiểu biết bởi chính mỗi cá nhân. Nó chính
là một nguyên tắc sống với ư thức trách nhiệm về đạo
đức của mỗi cá nhân.
Nhưng câu hỏi quan trọng là tôi phải làm ǵ với sự
trưởng thành đạo đức của ḿnh trong hành động ngoại
t́nh?
1. Một người với sự trưởng thành tâm lư, nhất là tâm
lư đạo đức không bao giờ được ngoại t́nh. Không chỉ
là ngoại t́nh bằng hành động, mà c̣n không bao giờ
được nuôi những tư tưởng ngoại t́nh trong ư nghĩ của
ḿnh. Đối với Chúa Giêsu "ngoại t́nh trong tư tưởng"
cũng là ngoại t́nh. Ngài phán: "Ai nh́n xem người
phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ là đă phạm tội rồi"
(Mt 5:28).
Theo tâm lư học, đặc biệt qua sự phân tích của phân
tâm học, th́ khi một suy nghĩ ngoại t́nh đă lọt vào
được trí óc của ḿnh, th́ nó sẽ không ra ngoài nhưng
âm ỷ trong vô thức, lúc ẩn, lúc hiện chờ khi có dịp
để nó bùng nổ.
Riêng đối với người Kitô hữu, phương pháp hữu hiệu
nhất vẫn là Phép Ḥa Giải, Phép Thánh Thể, và ḷng
sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.
2. Việc xưng thú tội lỗi, theo cái nh́n tâm lư là
một h́nh thức giải tỏa những uẩn khúc và đưa vô thức
trở về với tri thức. Việc làm này sẽ giúp tri thức
nhận ra cái yếu đuối và vô lư của hành động ngoại
t́nh đang âm ỷ trong tiềm thức.
Ngoài ra, với sự dốc ḷng chừa và sức mạnh của Bí
Tích Ḥa Giải sẽ giúp người có tư tưởng ngoại t́nh
khỏi bị lôi cuốn vào chước cám dỗ. Và nếu như có bị
cám dỗ hoặc sa ngă cũng được sức mạnh ân sủng của
Chúa để thắng lướt, để tẩy sạch những mặc cảm tội
lỗi, và để làm lại cuộc đời với một quyết tâm mới.
3. Việc rước Ḿnh và Máu Thánh
Chúa là sức mạnh thần linh và là thần dược giúp hồi
sinh sức sống nội tâm. Chúa Giêsu Kitô khi c̣n tại
thế đă xua đuổi ma quỷ ra khỏi nhiều người, ngày nay
trong Thánh Thể, và khi ngự vào tâm hồn mỗi người
Ngài cũng dùng quyền năng của Ngài để xua đuổi ảnh
hưởng Satan ra khỏi ḷng người đă bị chúng ḱm hăm,
trong đó có sự khống chế của tư tưởng ngoại t́nh.
Trong căn nhà tâm hồn khi có Chúa ngự trị th́ không
có chỗ cho Satan và ngược lại.
4. Yêu mến Đức Trinh Nữ Maria.
Đây là một thực hành đạo đức rất thích hợp với tâm
lư. Theo truyền thống Kitô Giáo, và đặc biệt theo
Thánh Alphongsô, ḷng sùng mộ Đức Trinh Nữ Maria sẽ
giúp ta ngăn ngừa và thắng vượt những cám dỗ về dục
vọng. Bởi v́ Đức Maria là "Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội",
Đấng không một giây phút nào bị khống chế bởi Satan.
Hơn nữa, c̣n là người đă đạp dập đầu con rắn già hỏa
ngục này, nên Satan rất sợ Nữ Vương Đồng Trinh này.
Tóm lại, điều mà con người không làm được th́ Thiên
Chúa sẽ làm. Và tất cả những ai khi bị cám dỗ bởi
những tư tưởng ngoại t́nh, hoặc để cho những tư
tưởng ấy làm xao xuyến tâm can, gây thương tổn về
tâm lư và đạo đức, th́ ngoài việc t́m kiếm những
phương pháp trị liệu tự nhiên, Bí Tích Ḥa Giải, và
Bí Tích Thánh Thể là hai phương pháp trị liệu và
thần dược tốt nhất, hữu hiệu nhất. Ngoài ra, cũng
đừng quên đến với Mẹ Maria, người Mẹ nhân từ nhưng
rất thần thế luôn hết ḷng bênh đỡ và che chở con
cái của Mẹ.
* * * * *
* * * * *
|