|
Nhẫn Trong
Đời Thường
Có
một thời người ta đeo nhẫn để chứng tỏ ḿnh
là người tự do.
Có một thời
người ta đeo nhẫn để nói lên ḿnh đă ràng buộc, cam kết.
Có một thời
người ta tháo nhẫn v́ cam kết không thành.
Thời La Mă cổ
đại, những người sinh ra trong giai cấp tự do cần phải
đeo nhẫn bằng vàng để mọi người biết rằng ḿnh là giai
cấp tự do, không thuộc tầng lớp nô lệ. Những người nô lệ
được trả tự do cũng cần phải đeo nhẫn, không phải bằng
vàng nhưng là nhẫn bằng bạc. Nên đeo nhẫn là để biểu lộ
tự do và cũng là để cam kết.
Nguồn
Gốc Tục Đeo Nhẫn
Chiếc nhẫn cưới h́nh tṛn. Ṿng tṛn tượng trưng cho lời
khấn hứa bất diệt, điều nguyện cầu vô tận. Đó là một
tượng h́nh bắt đầu từ Ai cập.
Theo tập tục của
dân Anglosaxons, khi làm lễ đính hôn th́ lễ vật nhà trai
mang đến nhà gái phải có một chiếc nhẫn đính hôn để vị
hôn phu đeo cho vị hôn thê trước mặt đại diện hai họ.
Sau khi được vị hôn phu tự tay đeo nhẫn đính hôn cho
ḿnh rồi, vị hôn thê mới lấy một chiếc nhẫn đính hôn
khác mà cô đă để sẵn trong túi áo để đeo vào tay người
cô yêu.
Nhẫn đính hôn
được đeo vào ngón giáp út của bàn tay trái cho đến ngày
làm lễ cưới. Tới ngày cưới, cô dâu chú dể sẽ tháo chiếc
nhẫn đính hôn từ tay trái để đeo vào tay phải cho nhau.
Dân Mỹ, Tô Cách
Lan và dân theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay theo tục
đeo nhẫn cưới vào ngón giáp út của bàn tay trái.
Tín đồ Thiên
Chúa giáo bắt đầu có tục lệ cô dâu chú rể đeo nhẫn cưới
cho nhau kể từ năm 800, nghĩa là được 1210 năm rồi.
Nhẫn
Trong Hôn Nhân Gia Đ́nh
Có những người khắc tên người yêu trên chiếc nhẫn giao
ước của ḿnh để nhắc nhớ và ghi khắc vào trong tim.
Nhưng cũng có những người lại lơ là, rồi quên dần lời
hứa giao ước.
Như Nhẫn không
phải là hạnh phúc, càng không đưa hạnh phúc về, th́ ngón
tay xỏ nhẫn cũng không nối nhịp thủy chung. Mà thái độ
đón nhận và trao ban mới làm cho t́nh yêu thăng hoa, mới
lôi kéo hạnh phúc về và sợi dây t́nh yêu mới thắt chặt
trong tâm hồn hai người.
Nhưng thực tế,
thái độ này đang bị lăng quên, coi nhẹ khiến cho cha mẹ
phải lo lắng. Người sắp tiến tới hôn nhân th́ dè dặt.
C̣n Thiên Chúa th́ càng lúc thấy rơ lối ṃn bất trung
của Israel xưa vẫn được vẽ lại trong thời đại nay.
Trong nghi lễ
hôn phối, có nghi thức làm phép và xỏ nhẫn. Chiếc nhẫn
tượng trưng cho t́nh yêu và ḷng trung tín của hai người.
"Xin Thiên Chúa chúc phúc cho những chiếc nhẫn này
mà hai người trao cho nhau để làm bằng chứng t́nh yêu và
trung thành".
Đôi tân hôn khi
xỏ nhẫn cho nhau đều đọc: "Anh (em) hăy nhận chiếc nhẫn
này để làm bằng chứng t́nh yêu và trung thành của anh (em).
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".
Xỏ nhẫn cho nhau
nói lên sự ràng buộc và trung thành với nhau suốt đời.
Hai chiếc nhẫn
có h́nh tṛn, nhưng khi để sát vào nhau sẽ tạo thành
h́nh số 8, giống như cái c̣ng của cảnh sát vậy. Nhưng là
một loại c̣ng tự nguyện, nên khi đă khoá lại th́ không
có ch́a để mở.
Từ Chiếc Nhẫn Đến Chữ
Nhẫn
Chữ nhẫn là chữ tương vàng,
Ai mà nhẫn được th́ càng sống lâu (Ca dao)
Nhẫn cưới th́
quư. Quư không bởi chúng làm bằng ǵ, mà là thái độ tự
nguyện của hai người công khai lập bản giao ước và quyết
chí trung thành bảo vệ. Nhờ đó, hương thơm của t́nh yêu
toả lan, và qua con đường này, họ t́m đến Thiên Chúa là
t́nh yêu đích thật.
Nhẫn cưới quư
th́ chữ Nhẫn trong đời sống càng quư biết bao. Nhờ chữ
Nhẫn của nhân đức mà chiếc nhẫn được tô thêm sự lộng lẫy,
sáng chói.
Nhờ chữ Nhẫn mà
tương quan cha mẹ, con cái, vợ chồng, bạn bè, đồng
nghiệp được sống trong trên thuận dưới hoà, giữ được hoà
khí ấm áp t́nh người.
Nhờ chữ Nhẫn mà
mọi thứ cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt không có cơ hội
phát triển, càng không thể áp đảo t́nh cảm gia đ́nh được.
Nhờ chữ Nhẫn mà
ư riêng không có cơ hội tấn công con người, nên gia đ́nh
tạo được một sức mạnh tập thể vững chắc.
Nhờ chữ Nhẫn, ta
mới hiểu được ḷng kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với con
người lớn lao đến dường nào.
Dĩ nhiên, muốn
Nhẫn th́ phải nhục. Nhưng nhục để có hạnh phúc gia đ́nh,
có được tín nhiệm và là chỗ dựa cho nhau th́ cũng đáng.
Truyện
Minh Họa
Năm 1028, khi thấy ḿnh sắp chết, vua Constantin IX ở La
mă cho vời nhà quư tộc Romanuus đến, để đồng thời vừa
truyền ngôi, vừa gả công chúa Théodora cho nữa.
Romanus tâu vua:
ḿnh hết ḷng cảm ơn ḷng thương của vua, song ḿnh đă
có vợ.
Không đếm xỉa ǵ
đến lời tâu, vua truyền cho ông, nếu không lấy con vua
th́ sẽ bị khoét cả hai con mắt: muốn chọn đàng nào th́
chọn. Rồi nhà vua cho ông một ngay để suy nghĩ.
Tới ngày hẹn,
ông Romanus vào chầu. Hoàng đế cho gọi công chúa đến,
một công chúa tài sắc vẹn toàn. Nhưng Romanus can đảm
tâu vua: dây hôn phối ràng buộc ông với vợ, do Thiên
Chúa buộc, và thế gian không ai có quyền tháo gỡ. Vua ra
sức ép nài nhưng vô ích. Ông Romanus cam ḷng chịu khoét
mắt hơn là lỗi lề luật của Thiên Chúa. (Trần công
Hoán, truyện hay 5, tr 54-55)
Ước chi ai đi
vào đời sống gia đ́nh th́ cũng luôn trung thành với giao
ước hôn nhân để không những giữ hạnh phúc gia đ́nh, mà
c̣n không làm cho nhiều con cái phải mồ côi, thất vọng,
đau khổ.
Dầu mà trời đất
phân chia,
Đôi ta như khóa với ch́a đừng rơi (ca dao)
Nếu ai cũng nhớ
đến chiếc nhẫn và biết dùng chữ Nhẫn từng ngày th́ t́nh
nghĩa, t́nh bạn, t́nh yêu sẽ măi vẹn toàn trọn hảo.
Cha con biết
nhẫn nhịn, đạo lư được vẹn toàn
Vợ chồng biết nhẫn nhịn, con cái khỏi bơ vơ
Anh em biết nhẫn nhịn, t́nh nghĩa chẳng phai mờ
Bản thân biết nhẫn nhịn, được mọi người mến thương
Ai chưa biết nhẫn nhịn, chưa phải là người.
Thanh Thanh
* * * * *
* * * * *
|