40 Năm Một Gịng Lệ

Ngồi liên tưởng đến Thánh Lễ Đại Trào Khai mạc năm Toàn xá, kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lavang và kỷ niệm 10 năm Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam. Tôi hồi tưởng về một khung trời ấu thơ xa xưa với một biến cố trọng đại đến với gia đ́nh tôi cách đây 40 năm về trước, vào một ngày cũng mưa gió như hôm nay.

Năm 1958, ba tôi làm việc tại Bệnh viện Trung Ương thành phố Huế. Mỗi tháng ông cùng các bác sĩ đi thanh tra các Bệnh viện nhỏ trong vùng một lần. Hôm ấy ông sửa soạn đi thăm bệnh viện Quảng Trị, cách thành phố Huế khoảng 65 cây số về phía Tây Bắc.

Tôi c̣n nhớ rơ hôm đó trời mưa lạnh, mưa rả rích suốt ngày. Ba tôi chuẩn bị lên đường. Ba tôi mặc chiếc Jacket bằng da và dặn ḍ mẹ tôi một vài điều ǵ đó rồi vội vă ra xe.

Bước xuống mấy bậc thềm, ông gặp ngay cha Cao Văn Luận, người cùng quê quán với cha tôi. Ngài rất thương yêu gia đ́nh tôi và niềm mong mỏi của ngài là được thấy gia đ́nh tôi theo Đạo. Điều mà đối với cha mẹ tôi là một trở ngại rất lớn, không thể nào thực hiện được. Họ hàng cả hai bên đều không có ai theo Đạo Công Giáo, vả lại mẹ tôi đă quy y, pháp danh là Nguyên Kha. Mẹ tôi cũng đă xây chùa cho làng ngoại tôi ở Huế. Cả một đời mẹ hy sinh cho hạnh phúc của chồng con, nhưng trong vấn đề tín ngường bà rất là cương quyết, v́ thế ba tôi cũng rất tôn trọng mẹ tôi, mặc dù ông rất mến cha Luận.

Cha Luận gặp ba tôi, ngài đưa cho ông một tấm ảnh và bảo: "Tôi mới đi kiệu ngoài Lavang về. Đức Mẹ đă làm nhiều phép lạ và rất linh thiêng, ông hăy giữ lấy mà cầu nguyện". Ba tôi cười cười, nói cám ơn cha, rồi thuận tay ông nhét tấm ảnh vào túi trong của áo Jacket: "Con phải đi ngay cha ạ, mọi người đang chờ con ở ngoài kia". Vừa nói ông vừa chào từ giă rồi đi ra xe.

Buổi chiều trong khi người làm dọn cơm, chúng tôi ngồi nghe mẹ kể chuyện. Mẹ đang kể một đoạn trong câu chuyện "những kẻ khốn cùng" của văn hào Victor Hugo, th́ chúng tôi nhận được hung tin. Chiếc xe chở ba tôi và bốn người nữa bị lật tại cầu Giồng Quảng Trị ch́m xuống sông rồi. Tất cả đều tử nạn. Bệnh viện báo tin và yêu cầu gia đ́nh đến ngay để nhận xác về mai táng.

Trước biến cố bất ngờ, mẹ tôi như người bị sét đánh, sững sờ ôm lấy chị em chúng tôi. Làm sao tôi có thể diễn tả hết nỗi đau đớn trong ḷng mẹ tôi lúc này... Mẹ tôi và chị em tôi theo xe bệnh viện ra Quảng Trị lấy xác cha. Đến nơi, tại trạm gác nhỏ nằm cuối chân cầu, xác của ba ông bác sĩ và nhân viên bệnh viện đă được vớt lên, c̣n thi hài ba tôi chưa t́m thấy. Người ta chưa vớt được, nhưng quả quyết rằng ông cũng cùng một số phận với những tử thi đang nằm đó, v́ ông ở dưới nước quá lâu. Thân nhân của các nạn nhân đă có mặt đông đủ, họ kêu gào khóc lóc rất năo ḷng. Em tôi c̣n nhỏ chưa hiểu lắm, nép trong ṿng tay mẹ ngơ ngác nh́n quanh: "Ba đâu, ba đâu mẹ!". Mẹ tôi chưa kíp dỗ dành th́ bỗng có tiếng người la lớn: "Đây rồi, vớt được xác cuối cùng rồi".

Là ba tôi đó. Mẹ tôi nhào tới. Người ta khiêng xác ba tôi đặt lên chiếc băng ca. Lại có tiếng la lên: "Trời ơi, ông ta h́nh như chưa chết. C̣n thở, hơi thở yếu lắm. Làm hô hấp cho ông ta ngay đi".

Và ba tôi quả c̣n sống thật. Mẹ tôi qùy xuống lạy trời lạy đất. Cám ơn Trời-Phật đă cứu sống ba tôi. Nước mắt mẹ tôi một lần nữa tuôn trào, nhưng lần này là gịng nước mặt hạnh phúc không ngờ. Chúng tôi quỳ xung quang băng ca. Ba tôi tỉnh lại hẳn. Ông nói bằng một giọng thật yếu ớt, câu nói đầu tiên tôi không bao giờ quên được: "Hăy xin cha rửa tội, rửa tội cho cả nhà. Đức Mẹ Lavang đă chữa ba".

Nói xong, ông đưa tay vào túi áo lục lọi kiếm t́m, ông rút ra một tấm ảnh Đức Mẹ Lavang, tấm ảnh mà Cha Luận đă cho ông trước chuyến đi định mệnh. Ba tôi nói tiếp: "Đây chính Bà này đă cứu ba. Ba bị mắc kẹt trong gầm xa không sao ra được. Bà đă đến lôi ba ra. Ra khỏi cửa xe, Bà đẩy ba nổi lên mặt nước và nói: "Ta là Mẹ Lavang, Ta đến cứu con".

Tôi chợt nghĩ lại: Nếu ngày hôm ấy ba tôi không vội vàng ra đi và có thời giờ tiếp chuyện cha Luận, th́ có lẽ bức ảnh Đức Mẹ Lavang đă bị bỏ quên trong ngăn kéo cùng với sự hững hờ của ba mẹ tôi rồi. Sau biến cố đó, gia đ́nh tôi gồm ba mẹ và 7 anh chị em được rửa tội trong sự tự nguyện rất hoan hỷ của mẹ tôi. Ba vị Linh mục thân thiết nhất của gia đ́nh là cha Cao Văn Luận, cha Ngô Văn Trọng, cha Vũ Minh Nghiễm dạy giáo lư cho gia đ́nh, đă dâng Thánh Lễ và ban phép Rửa Tội cho chúng tôi tại Thánh Đường Đức Mẹ Lavang Quảng Trị. Mẹ tôi vui mừng hân hoan và tin tưởng, bà lần chuôi Mân Côi mỗi ngày. Cho đến ngày nhắm mắt, bà vẫn là một tín đồ sốt sáng, sùng kính Đức Mẹ tuyệt đối. Đây là h́nh ảnh cuối đời của mẹ tôi.

Tôi c̣n nhớ, sau ngày gia đ́nh chịu Phép Rửa Tội, mẹ tôi đă phải chịu đựng biết bao lời ra tiếng vào của họ hàng và những người quen biết.... Mỗi lần than văn với Mẹ th́ mẹ tôi lại khuyên: "Ba là cột trụ, là nguồn sống của gia đ́nh. Đức Mẹ đă cứu sống ba là cứu sống cả gia đ́nh chúng ta. V́ thế dù cho phải chịu bao nhiêu thử thách, khó khăn cũng phải chấp nhận, để cảm tạ ân sủng đó. T́nh yêu luôn luôn có cái giá phải trả, và cái giá đó có nghĩa ǵ đâu với ân huệ mà Đức Mẹ đă ban cho gia đ́nh chúng ta".

Mẹ tôi nói đúng, ơn lạ mà Mẹ Lavang đă ban là một biến cố lớn trong đời sống tâm linh của gia đ́nh, cùng là một biến cố trong lịnh sử gia tộc. Ba tôi năm nay đă gần 90 tuổi. Ông vẫn c̣n giữ và kính tấm ảnh năm xưa đă cứu mạng ông. Tấm ảnh ngày nay đă mờ nhạt theo thời gian, nhưng mỗi ngày ông vẫn ngồi bên Mẹ, đọc kinh, cầu nguyện, truyện văn với Mẹ một cách thân t́nh.

Câu chuyện này vẫn thường được tôi kể lại cho các cháu nghe như một chuyện thần thoại nhưng có thực, chuyện xẩy đến từ một phép lạ của Đức Mẹ Lavang đối với gia đ́nh tôi nói riêng và nhiều gia đ́nh khác nói chung.

Ngày đại lễ khai mạc Năm Thánh hôm nay trời mưa nhiều. Tôi lái xe đi trong cơn mưa như trút, nhưng ḷng tôi hạnh phúc vô cùng v́ tôi được có Chúa, có ánh sáng niềm tin của Ngài chiếu rọi tâm hồn tôi. Tôi có t́nh yêu bao la rộng mở của Đức Mẹ đă đến với gia đ́nh tôi từ thuở tôi mới lên 10... Ngày nay tôi cũng vẫn cảm thấy ḿnh may mắn, đă được hưởng một ân huệ quá đặc biệt đến từ t́nh yêu bao la không bờ bến của Đức Mẹ....

 

California ngày 22 tháng 2 năm 1998. Lê tín Hương.

(Trích từ Báo Hiệp Nhât số 64, tháng 4, 1998).

* * * * * * * * * * * *